Hỗ trợ trực tuyến

Tin tức mới

Video




Hình ảnh

Đang online: 5

Truy cập hôm nay: 129

Tổng lượt truy cập: 487743

6 thách thức lớn về an ninh nguồn nước tại Việt Nam

7[-]thách[-]thức[-]lớn[-]về[-]an[-]ninh[-]nguồn[-]nước[-]tại[-]Việt[-]Nam

Khô hạn ở Ninh Thuận- Ảnh minh họa: Hồ Văn Điền


Một trong 6 thách thức nói trên, phải kể đến sự mất cân bằng giữa nhu cầu dung nước và khả năng dự trữ nước. Theo thống kê, hiện Việt Nam có khoảng 7.500 hồ chưa nước và đập dâng với dung tích chưa khoảng 20 tỷ m3. Nhưng trong đó, riêng nhu cầu nước dự kiến đến năm 2020 của một số lĩnh vực do Bộ NN&PTNT quản lý đã lên tới 125 tỷ m3 - theo chiến lược của phát triển thủy lợi Việt Nam đến năm 2020. Như vậy số với nhu cầu sử dụng cần thiết thì số nước được cấp chủ động từ các hồ chứa chỉ chiếm tỷ lệ vô cùng khiêm tốn, số còn lại phụ thuộc hoàn toàn vào lượng mưa tự nhiên và nguồn cung từ các con sông thông qua hệ thống trạm bơm. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là hiện nay lưu lượng nước của các con sông đang trong tình trạng suy giảm đáng kể.

Như đã nói ở trên, một phần lớn nguồn nước của Việt Nam phụ thuộc vào nguồn nước từ sông ngòi tuy nhiên Sông ngòi Việt Nam lại bị phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nước từ các con sông bên ngoài.Theo thống kê, có tới 63% tổng lượng dòng chảy sông ngòi Việt Nam đến từ các nước làng giềng, chỉ riêng với khu vực sông Mê Công, tỷ lệ này đã chiếm tới 90%( Bộ TN&MT năm 2012). Chính vì vậy, Việt Nam khó có thể nào nắm được thế chủ động ttrong quản lý và khai thác nguồn nước.

 

7[-]thách[-]thức[-]lớn[-]về[-]an[-]ninh[-]nguồn[-]nước[-]tại[-]Việt[-]Nam

Ảnh Hồ Văn Điền


Việt Nam cũng chưa xây dựng được chiến lược sử dụng nước, đây chính là nguyên nhân dẫn đến thiếu kiểm soát nguồn tài nguyên nước. Trong nền kinh tế Việt Nam, công nghiệp vẫn được coi là ngành tiêu tốn nhiều nước nhất, với tỷ lệ sử dụng lên tới 70- 80% nguồn nước, đồng nghĩa với việc xả thải ra môi trường từng đó nguồn nước mà đa phần là nước thải chưa được xử lý. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có khảo sát cụ thể nào về nhu cầu và thực tế sử dụng  nước, từ đó đưa ra các khuyến cáo và phương án sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước cũng như xử lý nguồn nướcxả thải sao cho có thể tái sử dụng.

Bên cạnh đó, tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu (BĐKH) cũng là một yếu tố quan trong khiếnan ninh nguồn nước bị đe dọa. Việt nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH nên tác động từ việc gia tăng các hiện tượng cực đoan này khiến nguồn nước bề mặt càng trở nên khan hiếm trong mùa khô và úng ngập trong mùa mưa. Đặc biệt là các hiện tượng mưa, bão, hạn hán thất thường trong thời gian vài năm trở lại đây. Điển hình là trận hạn hán kỷ lục trong 40 năm qua tại một số nơi thuộc các tỉnh như Quảng Trị, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, hạn hán kéo dài làm diện tích gieo trồng phải để trắng, phải chuyển đổi từ lúa sang cây trồng cạn. Hay các trận mưa, bão, triều cường lên cao gây ngập lụt kéo dài vừa qua tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh…..

Phát triển kinh tế và hội nhập cũng là một tác nhân gây sụt giảm và suy thoái nguồn nước. Phát triển kinh tế cũng đi đôi với nhu cầu sử dụng nguồn nước tăng cao, đặc biệt là các khu công nghiệp, khu đô thị….. Chủ trương Đô Thị hóa cũng góp phần “Bê tông hóa, cống hóa” không ít những ao hồ, sông ngòi, kênh rạch vốn giúp tích trữ nguồn nước bề mặt và thẩm thấu nguồn nước ngầm thành các khu chung cư, đường quốc lộ… dẫn đến nguồn nước ngầm đang bị suy kiệt nghiêm.

 

Bên cạnh những yếu tố khách quan thì yếu tố chủ quan về ý thức của con người là một thách thức đáng quan tâm lưu ý nhất. Đa số người dân cho rằng “Nước là vô tận” song đó là quan niệm sai lầm mà người dân cần phải nhận ra, hiểu được vai trò của nước và mối nguy hại khi thiếu nước. Bằng chứng là trận hán hán lịch sử trong 40 năm qua tại một số tỉnh miền Trung, người dân thiếu nước để sinh hoạt canh tác bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Hay đợt mất nước kéo dài làm người dân Thủ đô khốn đốn, hoặc 85,000 gia đình ở hai thành phố Cẩm Phả và Hạ Long “khát” nước sạch trầm trọng do vỡ đường ống dẫn nước sạch bị sau trận mưa lũ lớn,… đó chỉ là một ví dụ điển hỉnh cho việc thiếu nước, mất nước trong thời gian tạm thời. 

Vậy nếu mất nước, thiếu nước trong thời gian dài hạn hoặc vĩnh viễn thì sẽ ra sao? 

Đó là câu hỏi dễ nhưng rất khó để trả lời.

Có thể thấy an ninh nguồn nước Việt Nam đang chịu sức ép rất lớn từ những thách thức mang tính khách quan và chủ quan. Dự báo về nguy cơ thiếu nước trong thế kỷ 21 của các tổ chức quốc tế đối với Việt Nam không còn quá xa xôi. Chính vì thế, nhiệm vụ của toàn xã hội là phải chung tay bảo vệ, tiết kiệm, đồng thời tăng cường quản lý, phân bổ hiệu quả nguồn nước ổn định cho mục tiêu phát triển bền vững.

(Tinmoitruong.vn)